Chữ nghĩa trong tiếng hán tự nghĩa 義 trang 1, cách viết, từ ghép của hán tự nghĩa 義 trang 1

-

Đúng vậy, nếu xét từ Hán Việt thì cả hà và giang đều có nghĩa là sông, tuy nhiên nếu 2 từ này ghép với nhau như địa danh Hà Giang (tên tỉnh, thành) thì lại khác, vì là danh từ riêng nên không cần dịch nghĩa.


Hiện nay có 3 quan điểm về chữ hà (河) và giang (江).

Bạn đang xem: Chữ nghĩa trong tiếng hán

Ở Việt Nam, hà có nghĩa là sông (có thể lớn hoặc không lớn lắm), còn giang là sông cả, sông lớn. Nói cách khác, khái niệm hà chỉ sông nhỏ hơn giang. Ví dụ, đoạn sông từ Trung Quốc chảy vào lãnh thổ Việt Nam được chúng ta gọi là Hồng Hà (sông Hồng), còn Cửu Long giang (sông Cửu Long) là sông lớn hơn.

Vào thời thượng cổ, người Trung Quốc dùng từ hà (河) để chỉ sông Hà, từ giang (江) để chỉ sông Giang, do chữ hà và giang có cùng bộ Thủy (氵) nên ngày xưa người ta còn gọi 2 con sông này là Hà thủy và Giang thủy như ghi chú trong Thuyết văn giải tự. Nói cách khác, Hà (河) tức là Hoàng Hà ngày nay, còn Giang (江) là Trường Giang ngày nay. Tuy cả hai khái niệm hà và giang đều có nghĩa là sông, nhưng có phân biệt: hà dùng để chỉ các con sông ở miền Bắc Trung Quốc, còn giang dùng để chỉ các con sông ở miền Nam.

Hà (河) với nghĩa là sông, có khả năng là một từ Trung Quốc gốc, đọc theo giọng Quan Thoại (Bắc Kinh) là hé, Quảng Đông là ho4; trong khi đó, giang (江) tuy có nghĩa là sông, nhưng lại có khả năng xuất phát từ ngôn ngữ Nam Á, qua cách gọi k’long (sông) của vài sắc tộc. Khi phân tích chữ giang

(江) ta sẽ thấy rõ hơn, chữ này có 2 phần: bộ thủy氵+ âm 工 (đọc là gōng, tiếng Hán cổ là *kˤoŋ). Bằng chứng khác, hiện nay người Quảng Đông vẫn đọc chữ giang (江) là gong1.

Nhìn chung, cả hai chữ hà (河) và giang (江) đều là những từ cổ, đã được ghi nhận trong Kinh Thi. Theo quyển Từ nguyên của Lý Học Cần chủ biên, Liêu Ninh xuất bản xã (2013) thì ban đầu chữ hà (河) gồm có những ký tự âm thanh kết hợp với nhau, được ghi trên bản khắc xương (giáp cốt văn) giống như nhiều âm cổ khác thuộc bộ Ca. Còn giang (江) là chữ được nhìn thấy lần đầu trên những bản khắc bằng đồng (kim văn).

Để tạo ra những chữ Nôm có nghĩa là sông hoặc sông nước, người Việt xưa đã mượn nguyên xi từ Hán ngữ 2 chữ 河 (hà) và 江 (giang), mượn âm của chữ long (滝, lóng) và lung (瀧, lóng) để tạo ra chữ sông, tuy nhiên vẫn có chữ “thuần Nôm” viết là 㳘 (sông).

Ngày nay, trong tiếng Việt, chữ sông được dùng phổ biến hơn; còn hà và giang chủ yếu sử dụng trong nhân danh và địa danh.

Yêu là nghĩa của ái <愛> nhưng ái lại không phải là nguyên từ (etymon) của yêu. Đồng thời, trong khi yêu là một từ độc lập, một động từ, thì ái chỉ là một hình vị Hán Việt phụ thuộc, như chỉ có thể thấy trong bác ái, nhân ái, ái quốc ái quần, ái hữu, ái nữ...


Chàng trai có thể nói với cô gái: “Anh yêu em” chứ không thể nói “Anh ái em”. Còn câu Ngã ái nhĩ (Wǒ ài nǐ) thì chỉ là chuyện riêng của tiếng Hoa mà thôi.
Động từ yêu có một hình vị Hán Việt đồng âm, mà chữ Hán là <要>, như có thể thấy trong yêu cầu, yêu sách. Đây là một động từ của tiếng Hán, có nghĩa là “mong muốn, đòi hỏi”, không có liên quan gì về nguồn gốc với động từ yêu trong yêu nước, yêu thương, tình yêu... của tiếng Việt cả.

Xem thêm: " đoàn dự lâm chí dĩnh, bạch chú, trần hạo dân


Trong yêu nước, yêu thương, tình yêu... thì yêu là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ <憂>, mà âm Hán Việt hiện hành là ưu, có nghĩa là “lo lắng, buồn rầu”.
Chữ ưu <憂> cũng có điệp thức là âu, như trong lo âu, âu sầu. Chữ âu này còn có một cái nghĩa nữa là “yêu” - thực ra, ở đây, âu và yêu là hai điệp thức, như có thể thấy trong ngữ vị từ đẳng lập âu yếm, mà Nguyễn Du đã dùng trong câu Kiều thứ 500 (Xem trong âu yếm có chiều lả lơi) và câu 3.151 (Những như âu yếm vành ngoài). Ngoài ra, ta còn có ca dao:
Ở đây, âu có nghĩa là yêu mà yêu cũng là một điệp thức của âu vì cả hai đều có chung một nguyên từ là ưu <憂>. Yêu có thể đã đi vào tiếng Việt theo một trong hai con đường sau đây.
Một là trực tiếp từ chữ ưu <憂> theo tương quan ngữ âm ƯU ↔ IÊU, mà cứ liệu thì tuy thực sự ít ỏi nhưng hoàn toàn chắc chắn, điển hình là chữ <柳>, hiển nhiên thuộc vận mục hữu <有>, tức vận bộ vưu <尤>, lẽ ra phải đọc thành lữu, nhưng ta lại đọc thành liễu tự bao giờ, như trong bồ liễu, dương liễu, hoa liễu, liễu my (lông mày lá liễu), liễu ti (tơ liễu)...
Hai là yêu đến từ âu theo tương quan ÂU ↔ IÊU: biều <瓢>, là bầu ↔ bầu trong bầu bí; kiều trong kiều lộ ↔ cầu trong cầu đường; đặc biệt là trường hợp sau đây: chữ <妙>, nay đọc thành diệu, vốn là miệu vì thuộc thanh mẫu minh <明> và vận mục tiếu <笑>, có một điệp thức là mầu trong mầu nhiệm mà mầu nhiệm thì lại chính là điệp thức của diệu nghiệm <妙驗>.
Cứ như trên thì quan hệ “tay ba” giữa ưu ↔ âu ↔ yêu về mặt ngữ âm là điều đã được chứng minh. Điều còn lại là chuyện ngữ nghĩa: Ưu là lo lắng, buồn rầu thì liên quan gì đến chuyện yêu đương? Có chứ! Đó là diễn tiến theo hướng: lo lắng → quan tâm → gắn bó → thương yêu. Nếu không phải như thế thì ta đã không có cặp đôi ưu ái <憂愛> trong đó ưu là nguyên từ của âu và yêu còn ái thì lại có nghĩa là yêu.
*

Lắt léo chữ nghĩa: Xuất xứ của 'nọc' trong 'nọc độc'

Nọc trong nọc độc là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ <蠚>, mà âm Hán Việt là nhược , có nghĩa là chất độc của sâu bọ, rắn rết.


*

Tổng biên tập: Nguyễn Ngọc Toàn

Phó tổng biên tập: Hải Thành

Phó tổng biên tập: Lâm Hiếu Dũng

Ủy viên Ban biên tập - Tổng Thư ký tòa soạn: Trần Việt Hưng